Frank Rijkaard: Tiền vệ toàn năng của bóng đá Hà Lan

Có quá nhiều dấu ấn của những người Hà Lan ở đấu trường Châu Âu và thế giới. Frank Rijkaard là một dấu ấn như vậy khi ghi danh mình vào lịch sử từ cương vị cầu thủ cho đến HLV.

Ngày 30 tháng Chín năm 1962, Franklin Rijkaard cất tiếng khóc chào đời ở Amsterdam. Giống như các gia đình Suriname đến đây, Rijkaard thừa hưởng một nền tảng thể lực vượt trội hơn chúng bạn.

Huấn luyện viên Leo Beenhakker vẫn là một người đặt niềm tin vào các cầu thủ trẻ và sau đó đưa Rijkaard vào đội 1 với vai trò hậu vệ. Rijkaard là một cầu thủ độc nhất. Ông là chuyên gia đọc trận đấu đồng thời có thể phán đoán được tình huống trước khi nó xảy ra. Và khi ông không thể đoán được thì sao? Khi đó ông cũng đủ nhanh và mạnh mẽ để chiến thắng đối thủ trong những pha tranh chấp tay đôi. Rijkaard được thi đấu cùng với Johan Cruyff và gây được ấn tượng với huyền thoại Hà Lan nhờ kỹ thuật của mình.

Frank ở độ tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu, đã ghi bàn ngay trong lần ra mắt màu áo Ajax. Ông sớm trở thành trụ cột của đội khi còn rất trẻ và cho thấy mình sở hữu một tố chất của tiền vệ toàn diện bậc nhất.

Mùa hè năm 1985 là một thời điểm quan trọng trong sự nghiệp của ông. Đó là mùa hè mà Cruyff trở lại Ajax với vai trò huấn luyện viên và thay đổi hoàn toàn về chiến thuật cũng như sơ đồ. Rijkaard đã không vô địch Eredivisie với Ajax nữa cho đến giai đoạn thứ hai của ông ở câu lạc bộ, thế nhưng ông cũng giành được KNVB Beker và Cup Winners’ Cup. Bên cạnh những danh hiệu, ông trở thành mắt xích quan trọng để Cruyff xây dựng sơ đồ lý tưởng 3-3-1-3.

Sau 8 năm mài dùa ở Ajax, cuối cùng ông cũng có được trái ngọt khi cùng Ajax giành Cúp quốc gia 3 mùa giải và đoạt 1 chiếc European Cup II. Với phong độ ấy, Frank được gọi vào ĐTQG lần đầu tiên năm 1981, bên cạnh người bạn từ thời thơ ấu Ruud Gullit – huyền thoại của Ajax và ĐT Hà Lan. Nhưng chỉ đến khi gặp được chiến lược gia Rinus Michels – người luôn đề cao lối đá máu lửa tựa như câu nói đã trở thành thương hiệu:“Bóng đá là chiến tranh” thì khi đó đôi chân của chàng tiền vệ mới thực sự thăng hoa trong màu áo da cam. Với vị chiến lược gia, sức sáng tạo, tầm nhìn tốt cộng với một chút nóng nảy và sự mạnh mẽ của Frank là điều cần thiết cho ĐT Hà Lan lúc bấy giờ.

Anh chơi cặp với Ronald Koeman và phía trên là bộ đôi tiền đạo van Basten – Gullit tạo thành một bộ khung hạ gục đoàn quân Xô Viết tại trận chung kết Euro 1988, làm nên lịch sử cho xứ sở hoa Tulip. Tại giải đấu này, Rijkaard là nhân tố chủ chốt để khiến những kẻ hoài nghi phải câm nín. Ở đây chẳng có mối tư thù cá nhân nào hết, thế nhưng với cầu thủ 25 tuổi vào thời điểm ấy, đó là động lực để ông cùng đội bóng của mình tới đỉnh vinh quang. Ông có khả năng quan sát trận đấu một cách sắc sảo, một kĩ năng giúp rất nhiều trong nghiệp cầu thủ cũng như huấn luyện sau này.

Euro 88 ấy cũng đánh dấu sự kết thúc cho khoảng lặng trong sự nghiệp bóng đá của Frank. Trước đó, bản tính nóng nảy, nổi loạn và cái tôi quá lớn đã từng gây trở ngại cho anh ngay từ khi khoác áo Ajax những ngày tháng cuối, khi Johan Cruyff về dẫn dắt. Đỉnh điểm của những mâu thuẫn giữa cầu thủ cá tính và vị HLV khó tính đã khiến anh đi đến một quyết định bồng bột “sẽ không bao giờ chơi dưới sự chỉ đạo của Cruyff một lần nào nữa.” Một bản hợp đồng dang dở với Sporting Lisbon và một năm cho mượn ở Real Zaragoza là những kỉ niệm đáng quên đối với một cầu thủ ở tuổi 25 – độ tuổi đáng lẽ phải ở độ chín phong độ. Nhưng rất may, màn trình diễn thăng hoa ở Euro 88 đã cứu rỗi sự nghiệp của Frank.

Arrigo Sacchi – HLV của Milan khi đó nhìn thấy được những điểm mạnh của anh: với khả năng đọc trận đấu tốt, những cú tắc bóng hoàn hảo và những cú sút nội lực, ông mong muốn anh trở thành một phần của đội bóng cho dù chiến lược gia người Ý biết rằng quá trình uốn nắn một con ngựa bất kham như Rijkaard không phải là chuyện đơn giản.

Và có thể nói, Rijkaard chính là mảnh ghép cuối cùng mà Sacchi còn thiếu. Cùng với Carlo Ancelotti, ông đem đến tất cả những gì mà Milan cần; ông có kỹ thuật cá nhân tốt và có thể liên kết hiệu quả với Gullit và Van Basten trên hàng công; ông đủ thông minh để các tiền vệ và hậu vệ cánh phát huy hết khả năng cũng như đủ mạnh mẽ để đối đầu với bất cứ đối thủ tầm cỡ nào. Rijkaard cũng sở hữu khả năng ghi bàn đáng nể nếu xét trên phương diện của một cầu thủ đã thi đấu trong vai trò phòng ngự trong gần như toàn bộ sự nghiệp của mình.

Mùa giải đó, Milan nâng cao chức vô địch European Cup. Hàng phòng ngự được tổ chức một cách chặt chẽ của Sacchi là nền tảng hoàn hảo để Van Basten và Gullit tung hoành để rồi sau đó cả hai đều có cú đúp trong chiến thắng 4-0 trước Steaua Bucharest trong trận chung kết. Năm tiếp theo, Milan đã bảo vệ thành công chức vô địch, dù đội bóng  đã không còn kiểm soát thế trận nhiều như năm trước nhưng đó vẫn là một kết thúc hoàn hảo với Rijkaard.

Bước vào thập niên 90, đây không còn giai đoạn xuất sắc nhất của Gullit và Rijkaard nữa. Đến kỳ World Cup tại Italia với đa số những ngôi sao tại Euro 88 vẫn đang ở thời kỳ đỉnh cao, Hà Lan đáng ra phải thi đấu tốt hơn thay vì bị loại ở vòng 16 đội trước Tây Đức.

Dù giành thêm 2 scudetto nữa và lọt vào chung kết Champions League 1993 nhưng dường như ánh sáng ngày nào toả sáng tại thành Milan đã dần lụi tắt khi Van Basten và Gullit sa sút vì thể lực và phong độ không tốt. Rijkaard thì lựa chọn trở về Amsterdam. Ajax có một huấn luyện viên trẻ là Louis van Gaal và một tập hợp những cầu thủ trẻ tài năng đang trên đường trở thành những tên tuổi xuất sắc. Một Danny Blind đáng tin cậy ở vị trí trung vệ cần một đối tác ở hàng phòng ngự và Rijkaard là một phương án hợp lý. Sự nghiệp của ông viên mãn với chức vô địch Eredivisie trong hai mùa giải cuối ở De Meer đồng thời là khép lại nó theo một cách không thể nào tuyệt vời hơn bằng chức vô địch Champions League 1995 với chiến thắng trong trận chung kết trước đội bóng cũ AC Milan.

Rijkaard bước vào nghiệp huấn luyện năm 1998 với vai trò tân huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia Hà Lan. Tuy nhiên, quãng thời gian ở Barcelona trong giai đoạn giữa của thập niên 2000 mới là thời kỳ định nghĩa nên sự nghiệp cầm quân của chiến lược gia này. Nó đến sau một lời đề nghị từ Cruyff và cho đến ngày ra đi, Rijkaard được ghi nhớ vì đã nhen nhóm lại ánh hào quang cho Barcelona. Ông đã hồi sinh một tập thể rệu rã, đưa thứ bóng đá tổng lực của Hà Lan trở lại Camp Nou và pha lẫn trong đó là chất Samba cuồng nhiệt đến từ các cầu thủ Brazil như Ronaldinho. Ông cũng đã trui rèn tài năng của Andres Iniesta và sau đó là đưa Lionel Messi trở thành một phần quan trọng của đội một.

Dù thất bại thảm hại trong ở những nơi ông làm HLV sau đó, nhưng 2 chức vô địch La Liga và 1 chức vô địch Champions League giúp ông có một vị trí trang trọng trong lịch sử Barca. Ông kéo Barca ra khỏi cơn khát danh hiệu và một trong những cơn khủng hoảng tồi tệ nhất lịch sử.

>> Keowin – Cập nhật kèo bóng đá mới nhất hiện nay